📋 Article outline
Lời mở đầu: Một khung thể chế hoàn chỉnh từ Đảng đến Quốc hội
Chỉ trong vòng bốn tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã ban hành hai văn bản chiến lược có sức nặng đặc biệt đối với lĩnh vực văn hoá. Ngày 07 tháng 01 năm 2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hoá Việt Nam – văn kiện đặt nền móng tư tưởng, quan điểm chỉ đạo và mục tiêu chiến lược cho toàn bộ sự nghiệp văn hoá quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đến ngày 24 tháng 4 năm 2026, Quốc hội khoá XVI tại Kỳ họp thứ Nhất chính thức thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 về phát triển văn hoá Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 – văn bản pháp lý thể chế hoá các chủ trương của Bộ Chính trị thành hệ thống cơ chế, chính sách cụ thể và khả thi.
Đây là một quy trình lập pháp mẫu mực: từ định hướng chiến lược của Đảng (Nghị quyết 80) đến cơ chế pháp lý cụ thể của Nhà nước (Nghị quyết 28), tạo thành một khung thể chế hoàn chỉnh, đồng bộ và có tính ràng buộc cao. Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Việt Nam, văn hoá được khẳng định không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là trụ cột kinh tế chiến lược, một ngành công nghiệp tạo giá trị gia tăng và đóng góp trực tiếp vào GDP quốc gia.
Bài phân tích này sẽ làm rõ: (1) tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết 80-NQ/TW, (2) các cơ chế ưu đãi cụ thể của Nghị quyết 28/2026/QH16, (3) cơ hội đầu tư đặt ra cho khu vực tư nhân, và (4) tinh thần tiên phong cần có của các doanh nghiệp đầu tư công nghiệp văn hoá Việt Nam.
I. Nghị quyết 80-NQ/TW – Tuyên ngôn chiến lược của Bộ Chính trị
1. Định vị văn hoá trong kỷ nguyên mới
Nghị quyết 80-NQ/TW khẳng định một quan điểm chỉ đạo có tính bước ngoặt: "Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước." Văn hoá được đặt ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn liền với xây dựng thế trận an ninh văn hoá, an ninh con người và chủ quyền văn hoá số.
Đặc biệt, Nghị quyết 80 lần đầu tiên xác lập một tư duy mới về đầu tư văn hoá: "Đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc." Nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội và khu vực tư nhân là động lực quan trọng; thể chế đóng vai trò then chốt – đặc biệt là các cơ chế, chính sách đột phá để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho văn hoá, thu hút và trọng dụng nhân tài.
2. Mục tiêu định lượng đến 2030 và tầm nhìn 2045
Nghị quyết 80 đề ra một loạt chỉ tiêu cụ thể, có thể đo lường được:
Đến năm 2030:
- Bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn
- Các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP
- Hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá trong các lĩnh vực điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang
- Số hoá 100% di sản văn hoá đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026
- Xây dựng thành công 5 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật
- Thành lập thêm 1–3 trung tâm văn hoá Việt Nam tại nước ngoài
- Phấn đấu thêm 5 di sản văn hoá được UNESCO công nhận, ghi danh
- 100% chính quyền địa phương 2 cấp có thiết chế văn hoá đáp ứng nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng
Tầm nhìn đến năm 2045:
- Công nghiệp văn hoá, kinh tế sáng tạo đóng góp 9% GDP
- 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá tầm vóc quốc tế
- Thêm 8–10 di sản UNESCO
- Phấn đấu vào Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hoá
Đây là những mục tiêu đầy tham vọng nhưng có cơ sở: với quy mô GDP Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, ngưỡng 7% GDP vào năm 2030 tương đương quy mô thị trường công nghiệp văn hoá lên tới hàng chục tỷ USD – ngang tầm với các nền công nghiệp văn hoá hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
3. Ba lĩnh vực đột phá ưu tiên
Nghị quyết 80 xác định cơ chế tài chính ưu tiên thực hiện ba lĩnh vực đột phá:
Thứ nhất, đào tạo và đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật.
Thứ hai, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá.
Thứ ba, đặt hàng sáng tạo các công trình văn hoá, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Đồng thời, Nghị quyết yêu cầu đấu tranh khắc phục khuynh hướng "thương mại hoá", không coi trọng một chiều lợi ích kinh tế trong hoạt động văn hoá – đây là một tín hiệu quan trọng cho thấy chính sách không chỉ khuyến khích đầu tư, mà còn yêu cầu các nhà đầu tư phải có trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh văn hoá.
4. Chủ trương đột phá về hợp tác công – tư
Nghị quyết 80 mở ra không gian thể chế chưa từng có cho khu vực tư nhân:
- Mô hình lãnh đạo công – quản trị tư
- Đầu tư công – quản lý tư
- Đầu tư tư – sử dụng công đối với một số thiết chế văn hoá, thể thao
- Khuyến khích mô hình bảo trợ văn hoá, nghệ thuật trên cơ sở đóng góp tự nguyện, phi lợi nhuận
- Xây dựng Quỹ văn hoá, nghệ thuật theo mô hình công tư
- Chính sách ưu đãi vượt trội về đất đai, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá, ưu tiên công nghiệp văn hoá, công nghiệp giải trí
Đây chính là tiền đề trực tiếp cho hệ thống ưu đãi cụ thể được Quốc hội thể chế hoá tại Nghị quyết 28/2026/QH16.
II. Nghị quyết 28/2026/QH16 – Cơ chế hoá tinh thần Nghị quyết 80 thành luật pháp
Nghị quyết 28/2026/QH16 không phải là một văn bản độc lập, mà là sự thể chế hoá đầy đủ và đồng bộ các định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW thành các quy phạm pháp luật có tính bắt buộc thi hành. Trong phần III mục 3 của Nghị quyết 80, Bộ Chính trị giao nhiệm vụ cho Đảng uỷ Chính phủ phối hợp với Đảng uỷ Quốc hội "ban hành Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hoá Việt Nam trong Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI với các cơ chế, chính sách ưu đãi cụ thể, khả thi, hiệu quả". Nghị quyết 28 chính là sự thực hiện chính xác chỉ đạo này.
Dưới đây là các trụ cột chính sách quan trọng của Nghị quyết 28 mà nhà đầu tư cần hiểu rõ.
1. Ngày Văn hoá Việt Nam và cam kết tài chính 2%
Điều 2 Nghị quyết 28 quy định ngày 24 tháng 11 hằng năm là Ngày Văn hoá Việt Nam, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Điều 3 luật hoá cam kết tài chính: Nhà nước bảo đảm chi cho văn hoá hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển.
Với tổng chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện ở mức trên 2 triệu tỷ đồng/năm và tiếp tục tăng, mức cam kết 2% tương đương trên 40.000 tỷ đồng/năm dành riêng cho văn hoá. Đây là quy mô thị trường đủ lớn để hình thành một ngành công nghiệp văn hoá thực sự, tạo dòng cầu ổn định cho các doanh nghiệp đầu tư.
2. Hai mô hình hạ tầng đầu tư mới
Điều 4 thiết lập hai mô hình hạ tầng vật lý chưa từng có trong hệ thống pháp luật Việt Nam:
Cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hoá – khu vực có ranh giới địa lý xác định, tập trung các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá, được đầu tư xây dựng để liên kết các không gian sáng tạo, R&D, thử nghiệm, sản xuất, phân phối và thương mại hoá sản phẩm văn hoá. Mục tiêu là tạo thành hệ sinh thái công nghiệp văn hoá – giải trí đồng bộ, hiện đại, dựa trên nền tảng công nghệ cao.
Tổ hợp sáng tạo văn hoá – khu phức hợp công trình, không gian, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho thuê, khai thác, sử dụng nhằm phát triển công nghiệp văn hoá kết hợp thương mại – dịch vụ. Đặc biệt quan trọng: Nghị quyết cho phép chuyển đổi công năng các nhà máy, công trình cũ thành tổ hợp sáng tạo văn hoá – một cơ chế mở khoá hàng nghìn héc-ta đất công nghiệp lỗi thời tại các đô thị lớn.
Tổ chức, cá nhân đầu tư vào hai mô hình này được hưởng chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất – kinh doanh theo Điều 7 Nghị quyết 198/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân – tạo hiệu ứng cộng hưởng giữa hai chính sách lớn.
3. Gói ưu đãi thuế "ba lớp" cho công nghiệp văn hoá
Khoản 4 Điều 4 Nghị quyết 28 quy định ưu đãi thuế cho tổ chức, cá nhân đầu tư vào hạ tầng số, giải pháp công nghệ cao cho văn hoá, và các ngành công nghiệp văn hoá trọng tâm: du lịch văn hoá, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, trò chơi điện tử trên mạng có nội dung giáo dục, tuyên truyền, quảng bá giá trị văn hoá – lịch sử Việt Nam.
Lớp 1 – Thuế thu nhập doanh nghiệp: Miễn thuế 02 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động văn hoá của doanh nghiệp.
Lớp 2 – Thuế trên giao dịch vốn: Miễn thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp hoạt động văn hoá. Đây là ưu đãi cực kỳ mạnh – tương đương chính sách dành cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo công nghệ cao – cho phép các quỹ đầu tư mạo hiểm và nhà đầu tư thiên thần thoái vốn không chịu thuế.
Lớp 3 – Thuế thu nhập cá nhân của nhân tài: Miễn thuế 02 năm và giảm 50% trong 04 năm tiếp theo đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của chuyên gia, nhà khoa học nhận được từ hoạt động văn hoá. Đây là công cụ thu hút nhân tài quốc tế cực kỳ hiệu quả.
Bổ sung – Thuế giá trị gia tăng 5%: Điều 5 giảm thuế VAT từ 10% xuống còn 5% cho hoạt động sản xuất, phát hành, phổ biến phim; triển lãm; thể thao chuyên nghiệp; nghệ thuật biểu diễn.
4. Cơ chế đất đai và tài sản công
Khoản 4 Điều 5 quy định Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm:
- Bố trí quỹ đất cho các công trình văn hoá, thể thao, không gian trưng bày nghệ thuật công cộng
- Ưu tiên bố trí trụ sở công dôi dư để thu hút dự án đầu tư văn hoá; cho thuê trụ sở công dôi dư và công trình thuộc sở hữu nhà nước cho hoạt động văn hoá
- Miễn, giảm tiền thuê đất, tiền thuê bất động sản công đối với nhà xuất bản, cơ sở sản xuất phim tài liệu và khoa học
Cơ chế trụ sở công dôi dư đặc biệt quan trọng trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính – hàng nghìn cơ sở vật chất sẽ trở thành quỹ tài sản dồi dào cho các tổ hợp sáng tạo văn hoá, không gian biểu diễn, bảo tàng tư nhân.
5. Hồi hương cổ vật – Cơ chế đột phá
Khoản 2 Điều 5 thiết lập cơ chế đột phá cho hồi hương di sản:
- Miễn 100% thuế nhập khẩu, phí hải quan đối với tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, cổ vật quý hiếm
- Không chịu thuế giá trị gia tăng
- Áp dụng cho cả trường hợp mua, đấu giá, đưa về Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận để trưng bày, hoặc tặng cho, chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước
Đây là cơ hội lịch sử cho các tổ chức tư nhân và nhà sưu tập tham gia công cuộc hồi hương cổ vật quốc gia – một sứ mệnh mang ý nghĩa văn hoá – tâm linh sâu sắc.
6. Đô thị di sản – Mô hình thí điểm đến năm 2035
Khoản 3 Điều 5 cho phép chính quyền địa phương thí điểm mô hình đô thị di sản theo tiêu chí Chính phủ quy định, được quyết định cơ chế ưu đãi về đất đai, phí, lệ phí trên địa bàn. Thời gian thí điểm tối đa đến hết năm 2035 – gần một thập kỷ vận hành ổn định cho các dự án PPP văn hoá – di sản chiến lược.
7. Chính sách đãi ngộ nhân tài đặc thù
Điều 7 thiết kế hệ thống đãi ngộ chuyên biệt:
- Tuyển dụng không qua thi tuyển đối với người tốt nghiệp xuất sắc, vận động viên – nghệ sĩ tài năng đạt huy chương cấp quốc gia, khu vực, quốc tế
- Phụ cấp ưu đãi nghề từ 40% đến 60% mức lương cho nghệ thuật biểu diễn truyền thống, cổ điển, xiếc; vùng biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số; 20% đến 30% cho các lĩnh vực văn hoá khác
- Chế độ bồi dưỡng từ 5% đến 30% mức lương cơ sở cho mỗi buổi tập/diễn
- Hỗ trợ kinh phí đào tạo lại cho viên chức nghệ thuật truyền thống khi hết tuổi nghề; đào tạo nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp văn hoá, chuyển đổi số
8. Chuyển đổi số và mô hình kinh doanh số mới
Điều 10 đặt nền móng cho chuyển đổi số văn hoá:
- Ưu tiên đầu tư cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hoá, hạ tầng văn hoá số, nền tảng số dùng chung
- Bảo đảm kinh phí số hoá di sản cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt
- Thí điểm mô hình kinh doanh văn hoá mới: bảo tàng mở, nhà hát di động, thư viện số – tối đa 05 năm
- Hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo văn hoá, sáng tạo nội dung số
Đây là khung pháp lý đầy đủ cho các dự án Web3, blockchain, NFT văn hoá, AI sáng tạo nội dung Việt, bảo tàng ảo và các mô hình kinh tế sáng tạo thế hệ mới.
9. Quỹ Văn hoá, Nghệ thuật theo mô hình Venture Capital
Điều 11 là một trong những điểm đột phá nhất. Lần đầu tiên, Việt Nam thí điểm Quỹ văn hoá, nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư, hoạt động như quỹ đầu tư mạo hiểm, theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận khả năng rủi ro:
- Quỹ trung ương do Thủ tướng Chính phủ thành lập; quỹ địa phương do Chủ tịch UBND cấp tỉnh thành lập
- Mục tiêu: tài trợ, đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong văn hoá, nghệ thuật; chương trình, dự án có tính sáng tạo đột phá, tiềm năng thị trường và lan toả xã hội
- Thời gian thí điểm tối đa đến hết năm 2035
Mô hình này đặt văn hoá Việt Nam vào cùng quỹ đạo chính sách với Israel, Hàn Quốc, Anh quốc – những quốc gia đã sử dụng quỹ mạo hiểm văn hoá làm động lực cho ngành công nghiệp sáng tạo trị giá hàng trăm tỷ USD.
10. Nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy định có lợi hơn
Khoản 3 Điều 13 xác lập một nguyên tắc cực kỳ thân thiện với nhà đầu tư: "Trường hợp văn bản khác có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hơn quy định của Nghị quyết này thì đối tượng hưởng ưu đãi được áp dụng cơ chế, chính sách đó." Đây là cam kết pháp lý quan trọng, bảo đảm nhà đầu tư luôn được hưởng điều khoản tốt nhất giữa các văn bản pháp luật.
III. Tám lĩnh vực công nghiệp văn hoá trọng điểm – Bản đồ cơ hội đầu tư
Nghị quyết 80 và Nghị quyết 28 cùng xác định các lĩnh vực công nghiệp văn hoá trọng điểm cần tập trung phát triển:
1. Điện ảnh – sản xuất, phát hành, phổ biến phim; ưu đãi VAT 5%; chính sách hoàn thuế cho dịch vụ quay phim quốc tế tại Việt Nam.
2. Nghệ thuật biểu diễn – truyền thống và đương đại, từ cải lương, tuồng, chèo, xiếc đến nhạc kịch, biểu diễn đa phương tiện.
3. Du lịch văn hoá – kết nối với di sản UNESCO, đô thị di sản, làng nghề, lễ hội truyền thống.
4. Mỹ thuật – triển lãm, sàn giao dịch tác phẩm, không gian trưng bày công cộng.
5. Thiết kế và thời trang – thương hiệu mang bản sắc văn hoá Việt cạnh tranh toàn cầu.
6. Thủ công truyền thống – làng nghề, sản phẩm OCOP, kết hợp di sản với thương mại hoá hiện đại.
7. Trò chơi điện tử – có nội dung giáo dục, quảng bá giá trị văn hoá – lịch sử Việt Nam.
8. Ẩm thực và phần mềm/nội dung số – chuỗi nhà hàng Việt Nam ở nước ngoài, nội dung số, giải pháp công nghệ cao cho văn hoá.
Mỗi lĩnh vực này đều có thể trở thành một ngành công nghiệp tỷ đô nếu được đầu tư đúng cách trong thập kỷ tới.
IV. Tinh thần tiên phong: Vai trò của doanh nghiệp đầu tư công nghiệp văn hoá
Nghị quyết 80-NQ/TW khẳng định một quan điểm có tính bước ngoặt: "Doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá, công nghiệp sáng tạo và giải trí là động lực then chốt thúc đẩy đổi mới sáng tạo văn hoá." Đây là sự công nhận chính thức ở cấp cao nhất rằng khu vực doanh nghiệp – không chỉ là khu vực nhà nước hay các đoàn nghệ thuật công lập – mới là lực lượng tạo nên một nền công nghiệp văn hoá thực thụ.
Trong bức tranh đó, một số doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động đi trước đón đầu chính sách. Lĩnh Nam Cosmos – đơn vị đầu tư công nghiệp văn hoá thuộc Lĩnh Nam Group – là một trong những ví dụ tiên phong, với định hướng kiến tạo hệ sinh thái đầu tư trên ba trụ cột Heritage Space (Không gian Di sản) – Heritage People (Con người Di sản) – Heritage Capital (Vốn Di sản). Đây cũng là mô hình mà nhiều doanh nghiệp khác có thể tham khảo để định vị chiến lược đầu tư trong giai đoạn vàng 2026–2035.
Tinh thần tiên phong cần có ở các doanh nghiệp văn hoá Việt Nam giai đoạn này không chỉ là tốc độ ra quyết định đầu tư, mà còn là:
Sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế và trách nhiệm xã hội – đúng tinh thần Nghị quyết 80 yêu cầu khắc phục khuynh hướng "thương mại hoá" văn hoá.
Khả năng tích hợp công nghệ vào di sản – biến tài nguyên văn hoá truyền thống thành sản phẩm số, trải nghiệm số, mô hình kinh doanh số có sức cạnh tranh quốc tế.
Tầm nhìn dài hạn – đầu tư vào văn hoá không phải để sinh lời nhanh, mà để xây dựng tài sản văn hoá bền vững cho thế hệ sau, đồng thời tạo ra dòng thu ổn định trong vòng đời 10–30 năm.
Trách nhiệm với di sản dân tộc – đặc biệt trong các lĩnh vực bảo tồn, phục dựng, hồi hương cổ vật, bảo vệ ngôn ngữ và nghệ thuật truyền thống các dân tộc thiểu số.
V. Lời kết: Thời điểm vàng của một thập kỷ
Khi Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội cùng có hiệu lực, Việt Nam đã chính thức bước vào chu kỳ chính sách thuận lợi nhất từ trước đến nay cho công nghiệp văn hoá:
- Chu kỳ kéo dài đến năm 2035 với các cơ chế thí điểm
- Tầm nhìn 2045 với mục tiêu công nghiệp văn hoá đóng góp 9% GDP
- Gói ưu đãi thuế lên tới 6 năm cho mỗi dự án đầu tư
- Cam kết ngân sách tối thiểu 2% GDP công mỗi năm
- Quỹ đầu tư mạo hiểm văn hoá theo mô hình PPP
- Cơ chế đất đai, tài sản công minh bạch và hỗ trợ
- Mô hình đô thị di sản, tổ hợp sáng tạo văn hoá
- Khung pháp lý cho hồi hương cổ vật, di sản dân tộc
Đây là thời điểm các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các tổ chức di sản, doanh nghiệp công nghệ, nghệ nhân, nhà sáng tạo nội dung – cùng bước vào một sân chơi mới: sân chơi của công nghiệp văn hoá Việt Nam thế kỷ 21.
Chính phủ đã trao chìa khoá thể chế. Bộ Chính trị đã đặt kỳ vọng chiến lược. Quốc hội đã ban hành cơ chế cụ thể. Việc còn lại – mở cánh cửa ấy và bước vào – là trách nhiệm và cơ hội của khu vực doanh nghiệp và toàn xã hội.
Văn hoá Việt Nam đã sẵn sàng cho kỷ nguyên mới. Câu hỏi duy nhất là: ai sẽ là những người tiên phong viết nên câu chuyện đó?
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2026
Jonathan Hải Nguyễn